Bản tin Thuế

Bản tin thuế Tháng 12 năm 2020
THUẾ TNDN
Ngày 09/12/2020, Cục thuế tỉnh Bắc Ninh ban hành công văn số 3680/CT-TTHT về giảm thuế TNDN theo Nghị định số 113/2020/NĐ-CP, theo đó:
Trường hợp chi nhánh hạch toán độc lập, thực hiện khai thuế TNDN cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chi nhánh. Năm 2020, dự kiến doanh thu của Chi nhánh dưới 200 tỷ đồng thì Chi nhánh thuộc đối tượng được giảm 30% số thuế TNDN phải nộp năm 2020 theo hướng dẫn tại Nghi định số 114/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ.
 
THUẾ TNCN
Ngày 01/12/2020, Cục thuế tỉnh Bình Dương ban hành công văn số 27401/CT-TTHT về thuế TNCN, theo đó:
Trường hợp Công ty chi trả các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho người lao động (ký hợp đồng lao động với Công ty từ 12 tháng trở lên) thì khi chấm dứt hợp đồng lao động thì:
  • Đối với khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động nghỉ việc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của người lao động.
  • Đối với các khoản tiền thưởng có tính chất tiền lương, tiền công do Công ty chi trả khi người lao động nghỉ việc, khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động nghỉ việc cao hơn mức quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động thì Công ty thực hiện tổng hợp cùng tiền lương, tiền công để khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến từng phần trước khi chi trả.
  • Đối với khoản hỗ trợ tài chính công ty trả thêm cho người lao động (ngoài quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội) sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, nếu khoản chi này từ hai triệu (2.000.000) đổng trở lên thì Công ty phải khấu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên tổng thu nhập chi trả.
Ngày 17/12/2020, Cục thuế tỉnh Bình Dương ban hành công văn số 8537/CTHDU-TTHT về thuế TNCN, theo đó:
Trường hợp Công ty ký hợp đồng dịch vụ với Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu nước ngoài cử chuyên gia hỗ trợ thực hiện dịch vụ từ nước ngoài, chuyên gia không sang Việt Nam, thu nhập tiền lương, tiền công của chuyên gia này do nhà thầu trực tiếp chi trả thì Công ty có trách nhiệm thông báo với nhà thầu nước ngoài về nghĩa vụ nộp thuế TNCN của chuyên gia nước ngoài và trách nhiệm cung cấp thông tin về chuyên gia nước ngoài; Công ty có trách nhiệm cung cấp thông tin cho Cơ quan Thuế theo quy định tại Điều 27 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính. Theo thỏa thuận tại hợp đồng thầu, Công ty có trách nhiệm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thuế TNCN của các chuyên gia nước ngoài này thì Công ty phải khấu trừ thuế TNCN với thuế suất 20% trên thu nhập chịu thuế (nếu là cá nhân không cư trú).
 
Ngày 24/12/2020, Cục thuế tỉnh Hải Dương ban hành công văn số 29382/CT-TTHT về thuế TNCN, theo đó:
Trường hợp Công ty có người lao động là chuyên gia nước ngoài là cá nhân cư trú làm việc tại Công ty trong năm 2019. Đến tháng 03/2020 cá nhân này về nước (Thái Lan) và không quay lại Việt Nam do dịch Covid phải làm việc trực tuyến cho Công ty. Vậy năm 2020 cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày và cá nhân được xác định là cư trú tại Thái Lan thì Công ty có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN với thuế suất 20%.
 
HÓA ĐƠN
Ngày 10/12/2020, Cục thuế tỉnh Bình Dương ban hành công văn số 28158/CT-TTHT về hóa đơn điện tử, theo đó:
Về nguyên tắc khi bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, bên bán hàng khi xuất hóa đơn điện tử cho khách hàng phải lập hóa đơn đầy đủ danh mục hàng hóa bán ra đảm bảo nguyên tắc thông tin chưa trong hóa đơn điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011 của Bộ Tài chính. Công ty không được lập hóa đơn điện tử không có danh mục hàng hóa mà lại kèm theo bản kê hàng hóa có bản giấy cho khách hàng.
Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử ra giấy, nếu danh mục hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn thì thực hiện tương tự trường hợp sử dụng hóa đơn tự in mà việc lập và in hóa đơn thực hiện trực tiếp từ phần mềm và số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một hóa đơn, cụ thể:
Bên bán hàng được thể hiện hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu trang sau của hóa đơn hiển thị: cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động), cùng tên, địa chỉ, MST của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo ghi chú bằng tiếng việt không dấu “tiep theo trang truoc - trang X/Y” (trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó).
 
Ngày 10/12/2020, Cục thuế TP Hà Nội ban hành công văn số 105936/CTHN-TTHT về chữ viết không dấu trên hóa đơn điện tử, theo đó:
Trường hợp Công ty sử dụng chữ tiếng Việt không dấu trên hóa đơn điện tử thì các chữ viết không dấu trên hóa đơn phải đảm bảo không dẫn tới cách hiểu sai lệch nội dung của hóa đơn theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC. Công ty tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung hóa đơn điện tử đã lập.
 
VẤN ĐỀ KHÁC
Ngày 11/12/2020, Cục thuế tỉnh Bình Dương ban hành công văn số 28310/CT-TTHT về chi phí trước khi thành lập, theo đó:
Trường hợp các sáng lập viên của Công ty có văn bản ủy quyền cho cá nhân thuê văn phòng trước khi thành lập Công ty, nếu việc sử dụng văn phòng này liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, có đầy đủ hóa đơn chứng từ theo quy định (hóa đơn, chứng từ đứng tên cá nhân được ủy quyền, hóa đơn trên hai mươi triệu đồng trở lên phải thanh toán qua ngân hàng) thì được hạch toán vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN và Công ty được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo các hóa đơn GTGT đứng tên cá nhân được ủy quyền.
 
Ngày 14/12/2020, Cục thuế tỉnh Bắc Ninh ban hành công văn số 3708/CT-TTHTBNI về hướng dẫn nội dung trên hóa đơn chi hộ tiền điện, tiền nước, theo đó:
Trường hợp Công ty phát sinh hợp đồng cho các đơn vị khác thuê mặt bằng với thỏa thuận Công ty thực hiện chi trả các khoản điện nước, theo đúng tổng số lượng tiêu thụ tại địa điểm thuê mặt bằng, đồng thời Công ty hiện đang đứng tên trên các hợp đồng ký kết với các nhà cung cấp điện nước tại địa điểm cho thuê này (các đơn vị thuê mặt bằng dùng chung đường điện và nước với Công ty và chi trả cho Công ty tiền điện, tiền nước theo số lượng thực tế mà các đơn vị này tiêu thụ) thì khi thu tiền điện, nước của các đơn vị thuê mặt bằng Công ty phải thực hiện xuất hóa đơn GTGT và kê khai nộp thuế GTGT theo quy định tại Điều 16 và phụ lục 04 Thông tư 39/2014/TT-BTC, các quy định về thuế suất thuế GTGT thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.
 
Ngày 26/11/2020, Tổng cục thuế ban hành công văn số 5032/TCT-CS về chi phí cách ly phòng chống dịch Covid 19 của chuyên gia nước ngoài, theo đó:
- Về việc xác định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN:
+ Đối với chi phí cách ly tại khách sạn cho chuyên gia nước ngoài, trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng lao động với người lao động trong đó có ghi khoản chi về tiền nhà do doanh nghiệp trả cho người lao động thì khoản chi phí trả cho cơ sở cách ly được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.
+ Đối với khoản chi phí mua vé máy bay công tác cho chuyên gia nước ngoài, nếu khoản chi phí được thực hiện theo quy định tại Điểm 2.9 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính (được sửa đổi bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.
+ Khoản chi phí xét nghiệm Covid-19 cho chuyên gia nước ngoài được coi là khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động, nếu khoản chi phí này được thực hiện theo quy định tại Điểm 2.30 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính (được sửa đổi bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 cua Bộ Tài chính) thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và thanh toán theo quy định.
- Về việc xác định thu nhập chịu thuế TNCN:
Trường hợp người lao động nước ngoài được Công ty chi trả khoản chi phí cách ly phòng chống dịch Covid-19 khi nhập cảnh vào Việt Nam thì khoản chi này là lợi ích dược hưởng của người lao động. Do đó, khoản chi nêu trên được tính vào thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của người lao động.
 
Ngày 21/12/2020, Cục thuế tỉnh Bắc Ninh ban hành công văn số 3770/CTBNI-TTHT về hướng dẫn đối với khoản chi là hàng mẫu, không thu tiền, theo đó:
Trường hợp Công ty có thực hiện chương trình khuyến mại, tặng hàng mẫu cho khách hàng dùng thử không thu tiền theo quy định của pháp luật về thương mại thì khi xuất hàng, Công ty phải lập hóa đơn trên hóa đơn ghi tên, số lượng hàng hóa, ghi rõ là hàng hóa xuất làm hàng mẫu không thu tiền…, giá tính thuế được tính bằng không (0), dòng thuế suất, số tiền thuế GTGT không ghi gạch chéo. Trường hợp Công ty không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dung để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho.
 
Ngày 29/12/2020, Cục thuế tỉnh Bình Dương ban hành công văn số 29566/CT-TTHT về chi phí bồi thường, theo đó:
Trường hợp Công ty (bên nhận gia công) có phát sinh khoản chi tiền bồi thường cho khách hàng (bên giao gia công) do giao hàng không đạt chất lượng (nếu được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng), khi nhận tiền bồi thường thì khách hàng lập chứng từ thu, Công ty căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền. Khoản chi tiền bồi thường thiệt hại này Công ty được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN nếu đảm bảo chứng từ theo quy định: Hợp đồng kinh tế, biên bản làm việc giữa hai bên, chứng từ thu tiền của khách hàng, chứng từ chi tiền của công ty,… đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính.

Các tin khác: